Trần Ngọc
Chiến tranh là: không đổ máu
Cuốn cẩm nang về binh pháp của Tôn Tử, một nhân vật Trung Hoa, vẫn còn có giá trị vô cùng quan trọng.
Nếu Putin, Trump và Netanyahu lắng nghe những lời chỉ dẫn của ông – vốn đã có từ hơn hai ngàn năm trước,
họ đã không dùng vũ khí, mà dùng trí tuệ của mình.



Từ trái: Chân dung Tôn Tử theo trí tưởng tượng của dân gian, bìa bản dịch Việt ngữ của Thi Đạt Chí
do Việt Hoa Tùng Thư xuất bản năm 1955, và trang đầu của phần chính trong nội dung sách.
Tôn Tử được cho là sống từ năm 544 đến 496 trước Công nguyên. Nếu chúng ta giả định rằng ông có thực như vậy, thì Tôn Tử hẳn đã sống cách đây khoảng 2.400 năm. Nhưng cho dù là nhân vật hư cấu hay không, ông vẫn là một trong những nhà tư tưởng quan trọng nhất xưa nay, bất kể thời chiến hay thời bình. Những ý tưởng của ông về việc tiến hành và, trên hết, ngăn chặn chiến tranh vẫn còn rất phù hợp cho đến tận ngày nay. Nếu Donald Trump đã nghe theo ông, Chiến dịch Cuồng nộ Vĩ đại chống lại Iran đã không kết thúc trong một thảm họa kinh hoàng. Chiến dịch thậm chí đã không nên được khởi xướng. Điều tương tự cũng nên được áp dụng cho Chiến tranh Việt Nam và các cuộc phiêu lưu quân sự sau đó của Mỹ. Thế giới có thể đã tránh được vô số những tính toán chiến lược sai lầm chết người nếu các nhà lãnh đạo tuân theo những chỉ dẫn của Tôn Tử.
Trải qua nhiều thế kỷ, Tôn Tử được coi là một nhà tư tưởng chiến lược tài ba. Luận thuyết của ông về chiến tranh, chiến lược, chiến thuật và thuật lãnh đạo vẫn nằm trong chương trình giảng dạy của tất cả các học viện quân sự. Các nhà lãnh đạo như Donald Trump, Vladimir Putin và Benjamin Netanyahu dường như không biết đến tên tuổi ông, và nếu có, họ cũng không chú ý đến ông. Nhưng người lãnh đạo Trung Quốc, Tập Cận Bình, dường như coi ông là người dẫn đường địa chính trị vĩ đại của mình. Thật vậy, nếu không có Tôn Tử, người ta không thể hiểu được những thành tựu của Tập Cận Bình trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới.
Ảnh hưởng của Tôn Tử vượt xa môn khoa học về quân sự. Ngay cả những người không thuộc quân đội cũng đã biết đến ông. Mọi nhà lãnh đạo, bất cứ ai có nghề nghiệp liên quan đến cạnh tranh (như doanh nhân, chính trị gia, gián điệp, vận động viên), cho tới bất cứ ai muốn thử thách bản thân để phát triển – chẳng ai lại không tìm đến Tôn Tử? Cẩm nang chiến tranh của ông gần như đã trở thành một cuốn sách tự học hỏi, mặc dù nó được viết theo một phong cách không trau chuốt. Tên gốc tiếng Trung là Sunzi Bing Fa, “Tôn Tử Binh Pháp”, nghĩa đen là phép dùng binh của Tôn Tử. Nhiều thế kỷ sau, Niccolò Machiavelli đã đặt cho cuốn sách ghi những đối thoại về chiến tranh của mình có cùng tựa đề: Dell’arte della guerra (Nghệ thuật chinh chiến).
Lần đầu tiên, luận thuyết của Tôn Tử đã được nhà Hán học Mark Leenhouts dịch trực tiếp từ tiếng Trung sang tiếng Hòa Lan. Ông đưa thêm vào sách lời bình luận sâu sắc cho mỗi chương trong mười ba chương ngắn của tác phẩm. Về phong cách, âm điệu và nhịp điệu, bản dịch của ông đã thể hiện trọn vẹn tinh thần của bản gốc tiếng Hoa, vốn với khuynh hướng triết học, sử dụng các phép tu từ và hiệu ứng văn chương, hoàn toàn trái ngược với ngôn ngữ đầy rẫy bí hiểm của những chiến lược gia địa chính trị ngày nay. Không phải ngẫu nhiên mà ông Leenhouts đã nhận được Giải thưởng Dịch thuật Martinus Nijhoff năm 2025.
Tôn Tử là ai? Chúng ta biết gì về ông? Câu trả lời cho cả hai câu hỏi đều đáng thất vọng: chúng ta không biết gì về Tôn Tử một cách chắc chắn. Truyền thuyết Trung Hoa miêu tả ông là một thiên tài chiến lược. Người ta nói rằng ông sống từ năm 544 đến 496 trước Công nguyên, một niên đại chính xác đến kinh ngạc đối với một người mà sự tồn tại của ông thậm chí còn chưa được chứng minh. Vào khoảng thời gian đó, trò chơi cờ vây được phát minh ở Trung Quốc, một trò chơi dựa trên tầm nhìn chiến lược. Theo như chúng ta biết, tên của Tôn Tử không được nhắc đến cho mãi đến tận bốn thế kỷ sau. Có thể có một vài lý do giải thích điều này. Hoặc ông là một nhân vật hư cấu, hoặc là ông chỉ trở nên nổi tiếng sau này, hoặc có lẽ luận thuyết về chiến lược và chiến thuật quân sự của ông đã bị thất lạc trong cuộc đốt sách lớn vào năm 213 trước Công nguyên.
Đây là những năm đầu của một kỷ nguyên kéo dài hơn hai nghìn năm và định hình vĩnh viễn Trung Quốc: thời kỳ đế chế. Điều tương tự cũng áp dụng cho tư tưởng của Tôn Tử. Lệnh phần thư (đốt sách) đến từ Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tần, triều đại đầu tiên của Trung Quốc thống nhất. Đặc biệt, các cuốn sách về lịch sử, thi ca và triết học bị bắt buộc tiêu hủy. Bất cứ ai không tuân lệnh này đều bị xử tử. Những cuốn sách này thường đề cập đến những vị vua công chính, đức độ trong quá khứ. Do đó, những tác phẩm này có thể được sử dụng như một vũ khí chống lại chế độ mới. Tôn Tử, với những tư tưởng dị giáo, gần như theo chủ nghĩa hòa bình về chiến lược quân sự, cũng có thể đã chọc giận hoàng đế.
Với sự khởi đầu của đế chế, thời kỳ Chiến Quốc, kéo dài hai thế kỷ rưỡi, đã kết thúc. Bảy vương quốc liên tục chiến tranh với nhau cho đến năm 221 trước Công nguyên, khi vua nước Tần của vùng Trung Tây chinh phục sáu đế chế còn lại và tự xưng là Hoàng đế Tần Thủy Hoàng. Vị hoàng đế đầu tiên nổi tiếng nhất với đội quân bằng đất nung chôn dưới lòng đất, được cho là sẽ giúp ông giành được những chiến thắng mới ở thế giới bên kia, với những cải cách tập trung hóa mà ông đã thực hiện.
Theo các ghi chép lịch sử, thường mang tính thiên vị, ông là một bạo chúa cuồng vọng. Nếu thợ xây Vạn Lý Trường Thành đến muộn, họ sẽ bị xử tử cùng toàn đội thợ. Theo một thuyết khác với sử chính thức, Hoàng đế cũng được cho là đã ra lệnh thiêu sống 460 học giả. Học thuyết duy nhất được phép theo là Pháp gia, dạy rằng con người vốn dĩ xấu xa và do đó chỉ có thể bị kiềm chế bằng luật lệ hà khắc. Phần lớn nạn nhân của vụ thảm sát trí thức này là những người theo Nho giáo, những người theo học thuyết dựa trên các nguyên tắc đạo đức. Dưới triều đại nhà Hán, sau khi các hoàng đế nhà Tần bị tiêu diệt, Nho giáo đã trở thành quốc đạo.
Người đầu tiên nhắc đến Tôn Tử là sử gia Tư Mã Thiên, sống khoảng năm 100 trước Công nguyên và được gọi là “cha đẻ của sử học Trung Quốc”. Là “sử gia vĩ đại” của triều đình, Tư Mã Thiên đã viết cuốn sách sử đầu tiên của Trung Quốc, Sử Ký (Shiji), thường được dịch là “Sử Ký Tư Mã Thiên”. Nhiều câu chuyện về vị hoàng đế đầu tiên bắt nguồn từ ông. Ông đồng nhất Tôn Tử với vị tướng Tôn Vũ cũng bí ẩn không kém, và ông thuật lại rằng hậu duệ của ông này là Tôn Tẫn cũng viết về nghệ thuật chiến tranh. Cuốn luận thuyết này cũng được cho là có tựa đề “Binh Pháp Tôn Tẫn”.
Một sự lầm lẫn lịch sử chăng? Hoặc đó là sự đan xen của các cách giải thích khác nhau? Hoàn toàn bịa đặt? Hay Tôn Tử và Tôn Tẫn chỉ là một người? Chắc chắn rằng sử gia vĩ đại Tư Mã Thiên không phải là một sử gia vĩ đại, ít nhất là không theo nghĩa chặt chẽ của từ này. Ông thích cho những câu chuyện lưu truyền trong dân gian hoặc thần thoại là sự thật. Ví dụ, ông cho rằng lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ Hoàng Đế, người mà ông xem là một nhân vật lịch sử. Vị thần trong thần thoại này được cho là đã trị vì trong một thế kỷ cách đây gần năm nghìn năm. Hoàng Đế vẫn được tôn kính như một anh hùng dân tộc và là người sáng lập nền văn hóa Trung Quốc. Và cho đến ngày nay, gần như là một giáo điều rằng nền văn minh Trung Quốc đã tồn tại liên tục trong năm nghìn năm.
Không chỉ ở Trung Quốc, mà cả ở Nhật Bản và Hàn Quốc, cuốn Sử Ký đã trở thành ví dụ kinh điển về sử học. Nhưng chúng ta không biết nhiều hơn về Tôn Tử. Những gì Tư Mã Thiên kể cho chúng ta về bậc thầy này chỉ giới hạn ở một giai thoại rất khó tin. Thậm chí còn khó tin hơn, đó là niên đại chính thống của Binh pháp Tôn Tử, bởi vì nếu ông thực sự sống vào thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, thì cuốn sách chứa đầy những lỗi về niên đại. Ngay cả chương cổ nhất trong mười ba chương của luận thuyết cũng ra đời ít nhất một thế kỷ sau, so với điều lâu nay được người ta tin. Lời giải thích hợp lý nhất cho những điểm không nhất quán này và những điểm khác là Tôn Tử thực sự không tồn tại, mà dưới cái tên đó, các ý tưởng, bổ sung, bình luận và chỉnh sửa của các chiến lược gia từ nhiều thế hệ khác nhau đã được thu thập cho đến khi tác phẩm đạt đến bản hoàn chỉnh cuối cùng.
Mark Leenhouts viết trong phần giới thiệu bản dịch của mình: “Các chuyên gia từ lâu đã đồng ý rằng đằng sau ‘Tôn Tử’ hẳn phải là một tập thể các nhà văn, thậm chí là các nhà văn, biên tập viên và người biên soạn, như trường hợp của nhiều nhà tư tưởng trong lịch sử Trung Quốc.” Như vậy, đây là một phiên bản Trung Quốc của nghi vấn về Homer. Sự tồn tại của Homer như một nhân vật lịch sử đang bị đặt dấu hỏi lớn. Theo nhiều sử gia, Iliad và Odyssey là đỉnh cao nghệ thuật của những câu chuyện đã được kể qua nhiều thế hệ. Homer sau đó có thể là tên gọi chung cho những người kể chuyện bằng thơ có vần điệu, hoặc là người đã đưa tác phẩm tập thể của họ vào hình thức văn bản cuối cùng. Tương tự, cuốn sách được cho là của Tôn Tử có thể là đỉnh cao của trí tuệ được tích lũy và tuyên bố bởi các thế hệ chiến lược gia. Cuốn sách như chúng ta biết ngày nay hẳn đã dần hình thành trong thời kỳ Chiến Quốc. Vào thời đó, nhiều phát minh đã được tạo ra để hiện đại hóa các phương pháp chiến tranh. Một nghề nghiệp mới cũng xuất hiện: đó là nghề chiến lược gia quân sự (mưu sĩ). Các chuyên gia quân sự không quan tâm đến nguyên nhân chiến tranh, mà chỉ quan tâm đến chính chiến tranh. Họ ghi chép lại những hiểu biết của mình và đi khắp nơi để thuyết phục các nhà cai trị. Đôi khi họ phục vụ nhà vua với tư cách là mưu sĩ (cố vấn quân sự). Nếu lời khuyên của họ dẫn đến thành công, họ sẽ được thưởng hậu hĩnh, nhưng nếu chiến lược được họ bày ra dẫn đến thất bại, họ sẽ phải đối mặt với những hình phạt nặng nề.
Một dự án trọng điểm của sáng kiến ”Vành đai và Con đường” của Trung Quốc
là tuyến đường sắt nối Trung Quốc và Lào. Trung Quốc của Tập Cận Bình đang vươn lên
trở thành cường quốc thế giới thông qua mở rộng kinh tế,
chứ không phải bằng cách gây chiến tranh ở nước ngoài hay công khai đứng về phe nào.
Hình: Lauren DeCicca / Getty Images
Binh pháp Tôn Tử là cuốn sách lâu đời nhất được biết đến trong thể loại mới này, cũng như là cuốn sách lâu đời nhất trên thế giới về chiến lược quân sự. Ở Trung Quốc, nó là một trong “bảy tác phẩm kinh điển về quân sự”. Bốn tác phẩm trong bộ kinh điển đó có niên đại từ thời Chiến Quốc. Tác phẩm được cho là của Tôn Tử là nổi tiếng nhất trong bốn tác phẩm đó.
Lời khuyên hay nhất của Tôn Tử, nhưng ngày nay gần như bị lãng quên, dường như hoàn toàn trái ngược với bản chất của chiến tranh. Tuy nhiên, đây lại là đặc điểm thiết yếu nhất của “nghệ thuật” chiến tranh: một chiến lược gia thực thụ cố gắng giành chiến thắng mà không cần phải chiến đấu và chỉ bắt đầu chiến tranh khi tất cả các khả năng khác đã cạn kiệt. Theo lời của Tôn Tử: “Lý tưởng nhất là buộc quân địch đầu hàng mà không cần một trận đánh”. Do đó, chiến tranh tốt nhất là không nên cho diễn ra trên chiến trường, mà bằng sự thông minh. Và nếu bằng cách nào đó vẫn phải sử dụng vũ khí thật, thì hãy để cuộc chiến càng ngắn càng tốt.
Tôn Tử chia sẻ sự ác cảm với bạo lực với hai vị hiền triết vĩ đại khác cùng thời: Khổng Tử và Lão Tử. Người thứ nhất, Khổng Tử, được biết đến bên ngoài Trung Quốc với tên Latin hóa là Confucius (551 - 479 TCN); người thứ hai là người sáng lập Đạo Lão, một nhân vật chìm trong màn sương mù lịch sử, tên gọi đơn giản có nghĩa là “Bậc thầy già” (Lão Tử). Khổng Tử khao khát được trở về thời xưa, hàng trăm năm trước thời của ông, khi các giá trị đạo đức vẫn được đề cao, người dân biết bổn phận của mình, và người cai trị là tấm gương tối cao về đức hạnh và quản trị tốt.
Khổng Tử kịch liệt phản đối sự suy thoái của xã hội. Người cai trị phải một lần nữa trở thành ngọn hải đăng của trí tuệ và công lý, thần dân phải noi theo gương của người đó và biết vị trí của mình trong xã hội. Trong hệ tư tưởng về một xã hội hài hòa, chiến tranh không có chỗ đứng. Do đó, Khổng Tử hầu như không quan tâm đến binh pháp.
Tuy nhiên, tư tưởng của Tôn Tử lại mâu thuẫn với Khổng Tử. Những người theo Nho giáo không muốn dính dáng gì đến sự khôn ngoan và mưu lược mà Tôn Tử coi là bản chất của chiến tranh. Câu nói của ông, “chiến tranh là nghệ thuật lừa dối,” được minh họa bằng mười bốn chiến thuật lừa dối, đã không được các đệ tử của Khổng Tử đón nhận một cách tích cực, vì nó trái ngược với niềm tin đạo đức của họ. Suy cho cùng, những niềm tin này dựa trên một nguyên tắc cũng đóng vai trò trung tâm trong Kitô giáo và tất cả các tôn giáo lớn khác: Nếu ngươi không muốn chuyện đó xảy tới cho ngươi thì đừng làm chuyện đó với người khác (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân – chú thích của dịch giả). Về phần mình, những người theo Tôn Tử giữ khoảng cách với trường phái Khổng giáo, bởi vì họ phản đối quan điểm nòng cốt ở đó là phải có một cấu trúc xã hội phân cấp nghiêm ngặt. Tư tưởng của Tôn Tử lại phù hợp hơn với Lão Tử. Nghịch lý thay, nhà chiến lược quân sự nổi tiếng nhất Trung Quốc lại tìm thấy điểm chung với tư tưởng về chiến tranh của nhà tiên tri về tư tưởng Đạo Lão về vô vi ('không hành động', 'hành động không cần phải ra sức’). Leenhouts mở đầu cuốn sách của mình bằng câu nói quan trọng này của Lão Tử: “Một vị lãnh chúa chân chính không hiếu chiến, / một chiến binh chân chính không nóng nảy. / Người biết cách chiến thắng khôn ngoan thì không tham gia trận chiến, / người biết cách lãnh đạo khôn ngoan thì lại đứng ở vị trí thấp nhất.”
Lão Tử và Tôn Tử đều đồng ý rằng chiến tranh và bạo lực vũ trang cần được tránh càng nhiều càng tốt và chỉ nên dùng đến chúng trong trường hợp cực kỳ bất khả kháng. Quân đội tồn tại không phải chủ yếu để gây chiến, mà chính xác là để tránh chiến tranh, nhờ vào hiệu quả răn đe của lực lượng được trang bị tốt. Tôn Tử – độc đáo đối với một nhà chiến lược, cũng nhận định như vậy: đối với ông không phải là chiến tranh, mà là con người. Hơn cả một nhà chiến lược, ông là một nhà tâm lý học. Tiến hành chiến tranh không phải bằng cách tấn công trên chiến trường, mà bằng cách chinh phục tim óc.
Leenhouts lưu ý rằng trong Binh Pháp Tôn Tử, không có tiếng vũ khí va chạm, không có máu đổ, bạo lực không được tôn vinh, và những hành động anh hùng không được ca ngợi. “Nếu có điều gì đặc trưng cho thuật điều binh của Tôn Tử, điều ông mong đợi ở một vị tướng và người cai trị, thì đó là: sự khôn ngoan.” Và đó chính xác là điều đang thiếu trong các cuộc chiến tranh ngày nay.
Công thức của Tôn Tử dành cho một chiến binh thực thụ là giành chiến thắng “trước khi trận chiến bắt đầu”, chứ không phải “chiến đấu trước khi chiến thắng đã cận kề”. Putin, Trump và Netanyahu đã bắt đầu cuộc chiến của họ mà không xem xét đến một lựa chọn thay thế. Lựa chọn thay thế dĩ nhiên là con đường ngoại giao, nhưng cả ba đều ghét nó, hoặc họ chỉ theo đuổi nó để đánh lừa kẻ thù, như Trump trong các cuộc đàm phán về chương trình hạt nhân của Iran, hay như Netanyahu trong các thỏa thuận “ngừng bắn” với Hamas và Hezbollah liên tục bị vi phạm. Họ liều lĩnh lao vào chiến tranh mà không nhận ra rằng họ cũng có thể dễ dàng bị đánh bại.
Những sai lầm đó có thể đã được ngăn chặn nếu các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự thực sự thấu hiểu một khái niệm quan trọng của Tôn Tử: “Biết người, biết mình, thì trong trăm trận chiến, bạn sẽ không có gì phải sợ” (biết người biết ta, trăm trận trăm thắng – chú thích của dịch giả). Bất cứ ai thiếu hiểu biết về hai mặt này đều không biết về cán cân quyền lực thực sự và do đó sẽ thất bại. Putin nghĩ rằng Ukraine sẽ khuất phục trước “chiến dịch quân sự đặc biệt” của Nga trong vài ngày. Cuộc chiến ở Ukraine đã kéo dài hơn cả Thế chiến thứ nhất, và vẫn chưa thấy hồi kết. Cuộc chiến với Iran cũng được cho là sẽ kết thúc có lợi cho phe tấn công chỉ sau bốn hoặc năm ngày. Với tuyên bố đó, vốn chỉ dựa trên ảo tưởng, Thủ tướng Israel đã thuyết phục được Tổng thống Hoa Kỳ phát động một cuộc tấn công phối hợp. Hiện tại, cuộc chiến tưởng chừng dễ dàng này đang phải trả giá đắt. Chế độ độc tài Iran không chỉ kiểm soát eo biển Hormuz mà còn cả toàn thế giới, và Trump không còn biết làm thế nào để thoát khỏi cuộc chiến do chính ông gây ra, và đang khiến ông phải trả giá ngày càng đắt để tránh bị mất mặt. Đó là lý do tại sao ông tự mâu thuẫn về cuộc chiến với Iran thường xuyên hơn cung cách bình thường của ông.
Nếu Putin nghe theo lời khuyên của Tôn Tử, ông sẽ biết rằng một cuộc chiến, một khi đã trở nên không thể tránh khỏi, phải kéo dài càng ngắn càng tốt, bởi nếu không thì tinh thần binh lính sẽ sa sút và chỉ có kẻ thua cuộc.
Quân đội Israel đã giáng những đòn nặng nề vào kẻ thù, nhưng vẫn chưa thể nói đến “chiến thắng toàn diện” mà Netanyahu đã nhiều lần khẳng định. Cả Hamas lẫn Hezbollah đều chưa bị đánh bại, trong khi đó, trong cuộc chiến với Iran, sự tính toán sai lầm của Trump và Netanyahu về sức mạnh của chính họ và điểm yếu của đối thủ đã dẫn đến những hậu quả thảm hại.
Putin, Netanyahu và Trump như thế là có sự hiểu biết về kẻ thù của mình rất kém. Họ thiếu thông tin trầm trọng về khả năng quân sự của đối thủ. Họ không lường trước được các cuộc tấn công của kẻ thù, chẳng hạn như vụ thảm sát Hamas và cuộc truy bắt con tin ngày 7 tháng 10 năm 2023, cũng như không lường trước được các biện pháp phản công của kẻ thù, chẳng hạn như việc phong tỏa eo biển Hormuz.
Tôn Tử đã từng nói: “Chiến tranh thành công là phải xem xét ý định của kẻ thù một cách chính xác nhất mà bạn có thể làm”. Hơn nữa, một lỗi nghiêm trọng đã phạm phải đối với một điều kiện mà Tôn Tử cho là cần thiết để đạt được chiến thắng: đó là phải lường trước được những điều không ai ngờ tới.
Cờ vua được phát minh ở Iran. Không phải ngẫu nhiên mà từ “chiếu tướng” (check) bắt nguồn từ tiếng Ba Tư “shah”, nghĩa là vua, và mang ý nghĩa “chiếu hết”: nhà vua đã chết. Trái ngược với sự thiếu kiên nhẫn, thay đổi liên tục của Trump trong việc đạt được thỏa thuận là sự kiên trì vững chắc, không lay chuyển của các nhà lãnh đạo Iran nắm được con bài tẩy trong việc phong tỏa eo biển Hormuz. Ngôn ngữ thô tục mà Trump thốt ra để chống lại Iran trong các cuộc tấn công mang tính gây hấn của ông không chỉ không xứng đáng với một nguyên thủ quốc gia, mà sự khoa trương của ông còn trái ngược hoàn toàn với sự điềm tĩnh và thận trọng của Binh Pháp Tôn Tử.
Đến nay, điều đã trở nên rõ ràng như ban ngày là việc ám sát các nhà lãnh đạo không giáng đòn chí mạng vào phe đối lập. Các nhà lãnh đạo của Hamas, Hezbollah và Iran đã lần lượt bị Israel thủ tiêu, nhưng hết lần này đến lần khác họ đều được thay thế ngay lập tức. Chết trong khi thi hành nhiệm vụ không hề làm họ nản lòng. Ngược lại, trở thành người tử vì đạo là một vinh dự, và Allah sẽ ban thưởng cho họ hậu hĩnh. Tuy nhiên, những phần tử cực đoan cánh hữu ở Israel và Mỹ vẫn tiếp tục đòi hỏi nhiều hơn nữa: sự tàn phá dữ dội hơn, nhiều vụ đánh bom hơn, nhiều vụ thanh trừng hơn. Họ gọi đó là “hoàn thành công việc”. Mỗi hành động này đều là một cái tát vào mặt Tôn Tử, người chắc hẳn đã biết ngay từ đầu rằng cuộc chiến này lẽ ra không bao giờ nên xảy ra. Cuộc chiến của những kẻ xâm lược Ukraine, Gaza, Bờ Tây, Lebanon và Iran chế nhạo lời răn dạy của bậc thầy: “Trước hết hãy im lặng như trinh nữ, / và kẻ thù sẽ lộ diện; / sau đó hãy nhanh như thỏ, / và kẻ thù sẽ gặp nguy.” Và có lẽ nó còn chế nhạo hơn nữa nguyên tắc đã được chấp nhận rộng rãi kể từ thời Tôn Tử: đừng bắt đầu một cuộc chiến một cách bừa bãi, mà phải biết rõ mình muốn đạt được điều gì và bằng cách nào.
Nguyên tác: Oorlog is: geen bloed vergieten | Jan van der Putten | De Groene Amsterdammer, 29.07.2026
Người dịch: Trần Ngọc
*
Sunzi – De kunst van het oorlogvoeren.
Bản dịch tiếng Hòa Lan, có giải thích: Mark Leenhouts
192 trang, bìa cứng.
Nxb: Athenaeum (2025)
Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/vanhoaxahoi/vanhoa/chientranhlakhong.html