Phạm Ɖình Lân
Về Napoléon I và tướng De Gaulle
Lời nói đầu:
Nói đến nước Pháp vào thế kỷ XIX người ta liên tưởng ngay đến Napoléon I (1769 - 1821), Victor Hugo (1802 - 1885) và Louis Pasteur (1822 - 1895).
Napoléon là một tướng lãnh và một hoàng đế nổi tiếng nhờ những chiến thắng vang dội ở Âu Châu. Những chiến thắng quân sự ấy đã đưa ông lên ngai vàng và biến nước Pháp thành một đế quốc ở Âu Châu.
Victor Hugo là một đại văn hào vang danh khắp thế giới với tác phẩm Les Misérables (Những Kẻ Khốn Cùng), Notre-Dame de Paris (Nhà Thờ Ɖức Bà Paris) với mối tình bất tương xứng giữa anh gù Quasimodo và người đẹp Esméralda.
Louis Pasteur là nhà khoa học Pháp được xem là cha đẻ của ngành vi trùng học. Ông nổi tiếng với thuốc chích trị bịnh chó dại (rabies-hydrophobie) và bịnh than (anthrax) do vi khuẩn Bacillus anthracis gây ra.
Vào thế kỷ XX nước Pháp bị hai thế chiến tàn phá vào các năm 1914 - 1918 và 1940 - 1944. Quốc gia gây hấn với Pháp trong hai thế chiến là Ɖức. Trong đệ nhất thế chiến Pháp có đủ sức mạnh quân sự để đối đầu với Ɖức mặc dù bên cạnh họ có đồng minh Anh và Hoa Kỳ. Trong đệ nhị thế chiến Pháp bị Ɖức xâm chiếm một phần lãnh thổ ở miền Bắc. Thống chế Pétain, người phòng thủ Verdun năm 1916, thành lập chánh phủ thân Ɖức Quốc Xã ở Vichy. Hoàn cảnh nước Pháp lúc ấy giống Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của thống chế Chiang Kaishek (Tưởng Giới Thạch).
Nhật Bản xâm lăng và chiếm đóng một phần lãnh thổ Trung Hoa.
Ɖức chiếm đóng miền Bắc nước Pháp.
Trung Hoa có chánh phủ thân Nhật do Wang Jing Wei (Uông Tinh Vệ) lãnh đạo. Nhưng thống chế Chiang Kaishek đứng đầu chánh phủ kháng Nhật ở Chongqing (Trùng Khánh).
Pháp có chánh phủ thân Ɖức do Pétain lãnh đạo nhưng không có chánh phủ kháng chiến chống Ɖức trong nước. Charles de Gaulle là một đại tá vừa mới vinh thăng thiếu tướng trước khi Ɖức chiếm miền Bắc nước Pháp. Ông rời Pháp sang Anh, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Ɖức ở hải ngoại mặc dù quân hàm của ông quá khiêm tốn đối với các tướng lãnh từng là cấp trên của ông.
Chúng tôi chọn hai tướng lãnh lãnh đạo quốc gia của Pháp để có những so sánh cần thiết, vẫn biết rằng rất khó so sánh hai nhân vật lịch sử không cùng thời đại và hoàn cảnh chánh trị, kinh tế, xã hội. Dù vậy chúng tôi vẫn cố làm vì không có sự nhận xét khách quan và vô tư nào mà không qua ngưỡng cửa của sự đối chiếu và so sánh.
***
NAPOLÉON BONAPARTE (1769- 1821)
<=== (Ảnh: Wikipedia)
Napoléon Bonaparte sinh năm 1769 tại Ajaccio, thủ phủ của đảo Corsica (Corse), sau khi đảo này được nhượng lại cho Pháp. Cha ông là một luật gia thuộc dòng quí tộc xưa ở Tuscan (Ý).
Năm 9 tuổi Napoléon sang Pháp học ở trường Autun, ba năm ở trường quân sự Brienne và một năm ở trường võ bị Paris. Năm 16 tuổi ông mang cấp bậc thiếu úy pháo binh. Trong thời gian học ở Pháp ông bị xem như người ngoại quốc vì giọng nói tiếng Pháp mang nhiều ấn dấu Corsica của ông. Tình cảm của người thanh niên đảo Corsica với nước Pháp chưa có dấu hiệu nồng ấm. Năm 1786 ông về đảo Corsica và ở lại đó, không trở lại đơn vị đến năm 1788. Ɖó là sự giằng co tư tưởng trong tâm ông giữa Corsica độc lập và nghĩa vụ của ông trong quân đội Pháp.
Khi cách mạng 1789 bùng nổ, Napoléon Bonaparte theo nhóm Jacobins. Nội chiến diễn ra âm thầm trên đảo Corsica giữa nhóm thân Pháp và nhóm chủ trương Corsica độc lập. Napoléon Bonaparte theo nhóm Jacobins nên chống lại nhóm đòi Corsica độc lập. Năm 1793 ông và gia đình rời đảo Corsica vào lục địa Pháp để tránh sự bạo động của dân chúng trên đảo này.
Thành tích quân sự đầu tiên của Bonaparte là đẩy lui quân Anh rời khỏi cảng Toulon bằng pháo binh mặc dù ông bị thương nặng (tháng 12 năm 1793). Sau chiến tích này ông được vinh thăng thiếu tướng lúc mới 24 tuổi. Tướng Bonaparte được Augustin de Robespierre, một Quân Ủy, em của nhà độc tài thời Quốc Ước Nghị Hội (Convention) Maximilien Robespierre, giới thiệu với nhà độc tài này nên ông được bổ nhiệm chỉ huy pháo binh của quân đội Pháp ở Ý Ɖại Lợi. Robespierre, thủ lãnh nhóm Jacobins, là nhà độc tài hiếu sát và tự Thánh hóa mình. Ông tự xưng là Être Suprême (Ɖấng Tối Cao), sửa đổi lịch dựa theo mùa, thi hành chính sách khủng bố nhằm giết hại những người bất đồng chính kiến với ông, những người ôn hòa, những người giáo dân bảo hoàng, những nghị sĩ trong nhóm Girondins đối nghịch với nhóm cực đoan Montagnards trong Quốc Hội v.v.. Máy chém được chế ra (người Pháp gọi máy chém là Guillotine, tên người sáng chế ra máy chém) để chặt đầu hàng loạt nạn nhân, từ vua Louis XVI, hoàng hậu Marie Antoinette, đến tướng Beauharnais, chồng của Joséphine, sau này tái giá với tướng Napoléon Bonaparte. Giáo dân bảo hoàng vùng Vendée bị sát hại thảm khốc. Máy chém cũng không đủ để giết người, Robespierre ra lịnh đưa những người bị gán tội phản động xuống những chiếc tàu cũ, đem dìm ngoài khơi Ɖại Tây Dương.
Ngày 9 Thermidor, tức ngày 27-07-1794, những người đối kháng công khai hay bí mật hợp lực nhau đưa Robespierre lên máy chém. Tướng Bonaparte rụng rời khi hay hung tin này. Ông bị bắt giữ và bị kết tội phản quốc vì có liên hệ mật thiết với nhà độc tài Maximilien Robespierre. Không bao lâu ông được tự do nhưng không còn giữ vai trò gì trong quân đội.
Tướng Bonaparte sống cơ cực ở miền Nam nước Pháp. Ông yêu Désirée Clary, con gái của một nhà kinh doanh giàu có ở Marseille và là em vợ của anh ông là Joseph Bonaparte. Mối tình đầu này vụt tắt sau khi Bonaparte lên Paris. Sau cái chết của Robespierre Hội Ɖồng Chấp Chánh (Directoire) ra đời (1795 - 1799) do Paul Barras đứng đầu.
Paul Barras (1755 - 1829) là Tử Tước (Vicomte), tức thuộc dòng quí tộc. Dưới thời Robespierre ông bỏ phiếu hành quyết vua Louis XVI. Ông cũng là người âm thầm lật đổ Robespierre để trở thành nhân vật quan trọng thời Hội Ɖồng Chấp Chánh (Directoire/Directory, 1795 - 1799). Nước Pháp lâm vào khủng hoảng kinh tế, chánh trị và xã hội. Barras nhờ đến Bonaparte, người hùng trong trận đánh Toulon ngày nào. Bonaparte được gọi về Paris. Ɖây là khúc quanh quan trọng trong đời binh nghiệp và danh vọng của Bonaparte. Ông nổi tiếng trong cuộc đàn áp phe phản cách mạng bằng pháo binh ở Paris năm 1795. Nhờ sự đàn áp đẫm máu này ông được thăng trung tướng. Ông được Barras giao trọng trách chỉ huy quân Pháp trên chiến trường Ý Ɖại Lợi để chống lại quân Áo. Barras cần tài năng quân sự của Bonaparte để củng cố ngôi vị của ông dưới thời Hội Ɖồng Chấp Chánh. Không biết ông có dùng người đẹp Joséphine, góa phụ của tướng Beauharnais bị xử tử dưới thời Robespierre và là tình nhân của ông, để mua chuộc lòng trung thành của vị tướng trẻ Bonaparte hay không. Chỉ biết rằng Bonaparte rời bỏ mối tình đầu với Désirée Clary để cưới Joséphine, một góa phụ đẹp, quí phái, có nhiều tình nhân trong giới lãnh đạo Pháp thời bấy giờ. Bà có hai con với tướng Beauharnais và lớn hơn Bonaparte 6 tuổi. Ɖám cưới của hai người được cử hành ở Paris vào năm 1796.
Joséphine và Napoléon Bonaparte (Ảnh: ogmagazine.org.au)
Những chiến thắng sấm sét của Bonaparte trên chiến trường Ý Ɖại Lợi buộc Áo phải ký hiệp ước Campo Formio năm 1797. Theo hiệp ước này, Áo nhượng cho Pháp một số lãnh thổ trong đế quốc Áo như Hòa Lan (Netherlands), Cộng Hòa Venice v.v.. Hiệp ước Campo Formio chấm dứt Ɖệ Nhất Liên Minh Áo, Phổ, Anh, Tây Ban Nha, Cộng Hòa Hòa Lan (Cộng Hòa Batavia: 1795 - 1806). Hai quốc gia quân chủ hùng mạnh trong liên minh là Áo và Anh. Áo bị Pháp đánh bại và ký hiệp ước nhượng lãnh thổ trong đế quốc mình cho Pháp. Như vậy, sau khi ký hiệp ước Campo Formio, chỉ còn vương quốc Anh đơn độc chống lại cách mạng Pháp.
Năm vị lãnh đạo trong Hội Ɖồng Chấp Chánh đề cử Bonaparte xâm lăng vương quốc Anh.
Anh là một vương quốc nổi tiếng với một lực lượng hải quân hùng hậu. Bonaparte chiến thắng quân Áo bằng lục quân. Hải quân Pháp chưa có thành tích nào trước hải quân Anh. Bonaparte đề nghị đưa quân Pháp sang Ai Cập ngăn chận việc giao thương của Anh với Ấn Ɖộ. Ɖề nghị của ông được các nhà lãnh đạo Hội Ɖồng Chấp Chánh chấp thuận. 40.000 quân sĩ Pháp, dưới sự chỉ huy của tướng Bonaparte, được tàu hải quân chở sang Ai Cập. Họ đánh bại quân Mamluks của Ai Cập trên chiến trường Kim Tự Tháp (1798). Nhưng ngoài khơi Ɖịa Trung Hải gần hà khẩu sông Nile, tàu bè của Pháp bị hải quân Anh quét sạch. Quân Pháp bị “nhốt” ở Ai Cập. Họ không còn phương tiện để trở về quê hương. Họ đành phải dùng đường bộ xuyên qua lãnh thổ Do Thái bấy giờ để về nước nhưng bị quân Anh và Ɖế Quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) chận đứng ở Acre (1799). Tướng Bonaparte dùng thuyền chèo trên Ɖịa Trung Hải để về Pháp và để tướng Kléber cùng quân Pháp ở lại Ai Cập. Năm 1800 Jean-Baptiste Kléber bị ám sát chết ở Ai Cập.
Thoát khỏi sự kiểm soát của Hải Quân Hoàng Gia Anh, tướng Bonaparte về Pháp và thành công trong cuộc đảo chánh không đổ máu, lật đổ Hội Ɖồng Chấp Chánh ngày 18 Brumaire, tức ngày 09-11-1799. Chế độ Tổng Tài (Consulate/ Consulat) ra đời với ba vị Tổng Tài:
Thực quyền nằm trong tay Ɖệ Nhất Tổng Tài. Hai vị Tổng Tài còn lại đóng vai trò cố vấn mà thôi. Mọi người đều nể sợ tướng Bonaparte vì ông có những thành tích quân sự vang dội và có vây cánh ảnh hưởng lớn trong quân đội. Chiến thắng Marengo trước quân Áo ở Ý năm 1800 và hiệp ước Pháp-Anh ký ở Amiens cùng năm làm tăng thêm uy tín của Ɖệ Nhất Tổng Tài. Năm 1802 Bonaparte tự xưng là Tổng Tài đời đời. Năm 1804 ông tự xưng hoàng đế Napoléon I. Lễ đăng quang được cử hành tại nhà thờ Notre-Dame ở Paris với sự hiện diện của Ɖức Giáo Hoàng Pius VII từ Rome đến. Trong buổi lễ Napoléon I không để Ɖức Giáo Hoàng đặt vương miện lên đầu mình! Ɖó là sự cao ngạo của một người tự hào với chiến công và ngôi vị của mình trước vị lãnh đạo của một tôn giáo mà ông là tín đồ. Sau Napoléon I, Stalin, nhà lãnh đạo độc tài Liên Sô, cũng có thái độ cao ngạo tương tự khi hỏi: “Ɖức Giáo Hoàng có mấy sư đoàn?”
Năm 1805 đại quân Pháp đánh bại quân Áo và Nga trong trận Austerlitz. Lịch sử gọi đây là Chiến Tranh Tam Hoàng (Pháp hoàng Napoléon I, Áo hoàng Francis I và Nga hoàng Alexander I). Áo ký kết hiệp ước đình chiến Pressburg với Pháp. Theo đó Áo mất vương quốc Ý và Bavaria, bồi thường chiến phí 40 triệu Francs. Ɖệ Tam Liên Minh tan rã vì sự rút lui của Áo. Pháp xem chiến thắng Austerlitz là một chiến thắng vang động trong đời binh nghiệp của hoàng đế Napoléon I mặc dù trước đó không lâu, hải quân Pháp-Tây Ban Nha bị hải quân Anh đè bẹp trong trận hải chiến Trafalgar. Anh thắng Pháp nhưng đô đốc Nelson của Anh tử trận.
Năm 1806 đại quân Pháp thắng quân Phổ (Prussia) trong trận Jena và Auerstedt. Sau chiến thắng này đại quân Pháp tiến về phía Ɖông đánh bại quân Nga ở Friedland (1807). Hiệp ước Tilsit được ký kết giữa Pháp-Nga-Phổ. Lợi dụng cơ hội này Napoléon I tạo sự thân thiện với Nga để nước này hưởng ứng chánh sách phong tỏa lục địa của Pháp chống Anh. Napoléon I tức tối vì liên tiếp bị Anh gây ác mộng ở Ai Cập năm 1798, cuộc vây hãm thành Acre năm 1799, rồi trận hải chiến Trafalgar năm 1805. Hiệp ước Tilsit gây thiệt hại nặng nề cho Phổ vì họ bị mất 50% lãnh thổ. Napoléon I nhẹ tay với Nga nhưng mạnh tay với Phổ. Sự thành lập Liên Bang Sông Rhine chấm dứt sự hiện hữu của Ɖế Quốc Thánh La Mã, ra đời năm 800 dưới thời Charlemagne. Pháp dưới thời hoàng đế Napoléon I trở thành một đế quốc ở Âu Châu sau khi đánh bại Phổ, đế quốc Áo và Nga.
Napoléon I bắt đầu thực thi chánh sách gia đình trị ở Âu Châu.
Năm 1806 người anh cả của ông là Joseph Bonaparte được chọn làm vua Naples (1806 - 1808). Cộng Hòa Hòa Lan (Batavia) trở thành vương quốc Hòa Lan năm 1806. Em của hoàng đế Napoléon I là Louis Bonaparte được cử làm vua trên vương quốc này (1806 - 1810).
Năm 1807 em út của hoàng đế Napoléon I là Jérôme Bonaparte trở thành vua Tây Ban Nha giữa lúc người Tây Ban Nha xem Ferdinand VII là vua của mình. Du kích chiến Tây Ban Nha bào mòn sức mạnh của đại quân Pháp do Napoléon I lãnh đạo.
Em rể của hoàng đế Napoléon I là Joachim Murat, một tướng lãnh kỵ binh gốc người Croatia trong đế quốc Ottoman. Ông có công lớn trong cuộc đảo chánh không đổ máu ngày 18 Brumaire năm 1799 đưa Napoléon Bonaparte lên làm Ɖệ Nhất Tổng Tài. Năm 1808 Murat được cử làm vua Naples thay Joseph Bonaparte được cử làm vua Tây Ban Nha.
Năm 1810 Jean-Baptiste Jules de Bernadotte là thống chế của Pháp và chồng của Désirée Clary, người tình đầu tiên của Napoléon Bonaparte, được triều đình Thụy Ɖiển chọn nối ngôi vua với hai điều lợi cho Thụy Ɖiển:
1- Ɖược sự bảo vệ của hoàng đế Napoléon I. Désirée là người yêu cũ của Napoléon I. Chị của Désirée là Julie là vợ của Joseph Bonaparte, vua Tây Ban Nha. Hai chị em Julie và Désirée trở thành hoàng hậu: Julie là hoàng hậu ở Naples rồi Tây Ban Nha. Désirée sẽ là hoàng hậu ở Thụy Ɖiển.
2- Có một tướng tài (Bernadotte) để đương đầu với Nga trong việc tranh chấp về vấn đề Phần Lan.
Bernadotte lên ngôi năm 1818 và mất năm 1844 ở Thụy Ɖiển. Ông bị người Pháp lên án nặng nề vì cùng Ɖệ Lục Liên Minh đánh bại quân Pháp trên đường về Paris sau khi triệt thoái khỏi Nga.
Trên chiến trường Napoléon I là ngưởi chiến thắng. Nhưng nội tâm của ông bất ổn vì cảnh xa hoàng hậu Joséphine lâu ngày. Hoàng hậu không có con để nối ngôi. Năm 1810 hoàng đế Napoléon I ly dị hoàng hậu Joséphine. Sự kiện này trở thành sự bắt đầu của những quyết định sai lầm của ông dẫn đến sự sụp đổ của đế triều năm 1815.
Về phương diện chánh trị, Napoléon muốn cưới em gái của hoàng đế Nga Alexander I là nữ Quận Chúa Anna Pavlovna để tạo một liên minh Pháp-Nga trên lục địa Âu Châu hầu bao vây Áo-Phổ và Anh. Nga bác bỏ đề nghị này. Nga bất đắc dĩ theo Pháp trong chánh sách phong tỏa Anh theo tinh thần hiệp ước Tilsit vì bị bại trận ở Friedland. Chánh sách phong tỏa lục địa của Napoléon I gây thiệt hại cho kinh tế Nga, quốc gia sản xuất nhiều lúa mì nhất Âu Châu thời bấy giờ.
Sự từ chối gả em gái của Nga hoàng Alexander I cho hoàng đế Napoléon I chạm tự ái của vị hoàng đế nước Pháp nhưng đó là món quà chánh trị to lớn cho đế quốc Áo. Tể tướng Klemens Von Metternich của Áo không để cho cơ hội ngàn năm có một này qua đi. Ông thuyết phục Áo hoàng Francis I gả công chúa Marie Louise cho Napoléon I. Ɖám cưới chánh trị Pháp-Áo diễn ra vào năm 1810 giữa hoàng đế Pháp Napoléon I và công chúa Marie Louise. Lúc ấy Napoléon 41 tuổi, Marie Louise được 19 tuổi. Cuộc hôn nhân này không mang lại hạnh phúc cho cá nhân hoàng đế Napoléon I và Marie Louise vì sự cách biệt quá lớn về tuổi tác và sự thiếu vắng tình yêu chân thật của một công chúa trẻ từ một quốc gia quân chủ thù nghịch với cách mạng Pháp. Marie Louise sinh một con cho hoàng đế Napoléon I vào năm 1811. Ɖó là hoàng tử Napoléon François Charles Joseph Bonaparte tức Naploléon II, Vua Rome.
Chân dung Napoléon I, Marie Louise và hoàng tử
Napoléon François Charles Joseph Bonaparte (Ảnh: meisterdrucke.nl)
Quan hệ Pháp-Nga xấu đi. Nga hoàng Alexander I không còn hưởng ứng chánh sách phong tỏa lục địa của Pháp nhắm vào việc làm suy yếu vương quốc Anh. Nga hoàng mặc nhiên xem hiệp ước Tilsit vô hiệu lực.
Quyết định xâm lăng Nga của Napoléon I năm 1812 mở đầu cho sự suy yếu và sụp đổ chế độ mà ông đại diện.
Khoảng cách giữa Paris và Moscow bằng đường bộ lối 3.000km. Việc điều động 600.000 quân xâm lăng nước Nga bằng những phương tiện thô sơ thời bấy giờ không phải là một việc dễ dàng. Nước Nga là một nước rộng lớn và đông dân nhất ở Âu Châu. Thời tiết giá lạnh khắc nghiệt của Nga vào mùa đông trở thành bức tường thành bảo vệ nước này một cách tự nhiên.
Quân Pháp bắt đầu tấn công Nga vào tháng 6 năm 1812 và tiến vào Moscow vào tháng 9. Quân Nga không chống trả mãnh liệt mà chỉ đánh cầm chừng rồi rút lui. Họ áp dụng chiến thuật vườn không nhà trống bằng cách đốt nhà trong thành phố Moscow cho quân Pháp không có nơi trú ẩn, ngăn chận đường tiếp tế lương thực cho quân Pháp và chờ mùa đông đến để tấn công quân xâm lăng. Quân Pháp tiến vào một thành phố hoang tàn, vắng bóng người, nhà cửa hóa tro tàn. Napoléon I chờ đợi Nga hoàng Alexander I tuyên bố đầu hàng một cách vô vọng. Tướng Kutuzov của Nga im lặng một cách khó hiểu. Một kế hoạch mưu tính hay một sự đầu hàng không công bố công khai? Ɖại quân Pháp lâm vào cảnh sống ngoài trời, không nơi trú ẩn, không có lương thực đến phải giết ngựa để ăn. Nhiều binh sĩ ngã bịnh và chết vì lạnh. Thỉnh thoảng họ bị quân Nga của Kutuzov tấn công.
Tranh cuộc hành quân của Napoléon vào nước Nga (Ảnh: Wikipedia)
Tháng 10 năm 1812 Napoléon đành phải triệt thoái ra khỏi Moscow. Việc triệt thoái vô cùng gian nan, khác với lúc tiến vào thủ đô Nga. Quân Nga chận đánh quân Pháp trên đường triệt thoái. Trận đánh mở đầu cho sự suy sụp của Napoléon I diễn ra trên bờ sông Berezina dưới nhiệt độ 0 độ C vào tháng 11 năm 1812. Pháp được xem như “thắng” trận này vì đã vượt qua sông Berezina nhưng 30.000 quân chết vì chiến đấu và vì lạnh. Trên đường rút quân về Paris đại quân Pháp bị Liên Minh Áo, Nga, Phổ, Thụy Ɖiển (2) đánh bại ở Leipzig (1813). 100.000 quân Pháp tử trận. Ngày xâm lăng Nga có 600.000 quân Pháp tham dự. Ngày triệt thoái khỏi Moscow và về đến Paris năm 1814, quân số Pháp chỉ còn 100.000 người.
Ɖệ Lục Liên Minh (6ème Coalition) gồm Nga, Áo, Anh, Bồ Ɖào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Ɖiển tiến về Paris chấm dứt đế triều Napoléon I. Liên Minh thắng trận, đưa một hậu duệ của dòng Bourbons lên ngôi. Ɖó là vua Louis XVIII. Tháng 5 năm 1814 hoàng đế Napoléon bị đày ra đảo Elba thuộc Ý trên Ɖịa Trung Hải.

Bức tranh năm 1836 của Joseph Beaume này tái hiện một cách thật trung thực về mặt lịch sử
cảnh Napoléon rời đảo Elba vào ngày 26 tháng 2 năm 1815 (Ảnh: nationalgeographic.nl).
Ɖến tháng 2 năm 1815 Napoléon âm thầm trở về Pháp. Vua Louis XVIII bỏ chạy. Napoléon I lập chánh phủ 100 ngày và tiếp tục chiến tranh với các nước quân chủ Âu Châu trong Ɖệ Lục Liên Minh. Quân Pháp bị quân Liên Minh Anh, Phổ, Bỉ, Hòa Lan dưới sự chỉ huy của quận công Wellington (Anh) và tướng Von Blucher (Phổ) đánh bại ở Waterloo ngày 19-06-1815. Một lần nữa hoàng đế Napoléon I bị đày sang đảo St Helena ngoài khơi Nam Ɖại Tây Dương, cách lục địa Phi Châu lối 2.000km. Ông mất ở đây năm 1821. Năm 1840 ông được cải táng và đem về chôn trong Hôtel des Invalides, quận VII, Paris.
***
CHARLES DE GAULLE (1890 - 1970)
<=== Ảnh: reddit.com)
Charles de Gaulle sinh năm 1890 tại Lille trong một gia đình trí thức trung lưu thượng cấp. Dòng họ ông sản sinh ra nhiều nhà văn và sử gia. Thân sinh của ông là giáo sư Triết Học và Văn Chương. Ông theo binh nghiệp và đã từng viết nhiều sách về quân đội và nước Pháp như La Discorde chez l’Ennemi (1924), Le Fil de l’Épée (1932), Vers l’Armée de Métiers (1934), La France et son Armée (1938), Mémoires de Guerre (1954) v.v..
De Gaulle được mô tả như một người cao lớn (1,94m), thông minh, siêng năng, cần mẫn, cương trực và lì lợm. Ông không theo nghiệp của dòng họ mà chọn binh nghiệp. Ông học trường Võ Bị Saint Cyr khét tiếng của Pháp và tốt nghiệp năm 1913 với cấp bậc thiếu úy. Năm 1914 đệ nhất thế chiến bùng nổ. Ông phục vụ dưới quyền thiếu tướng Philippe Pétain, người nổi tiếng trong trận đánh Verdun năm 1916. De Gaulle bị thương 3 lần và bị bắt làm tù binh 32 tháng. Ông chỉ được tự do khi Ɖức bị đánh bại và ký hiệp định đình chiến ngày 11-11-1918.
Việc thăng cấp của De Gaulle tương đối chậm. Trong thời gian 1927 - 1929 ông mang cấp bậc thiếu tá và đồn trú trên vùng lãnh thổ sông Rhine. Từ vùng đất này ông bắt đầu lo ngại sự chỗi dậy và gây hấn của Ɖức nhắm vào Pháp. Ông quan tâm đến việc cải tổ quân đội và hiện đại hóa quốc phòng. Nhưng với cấp bậc khiêm tốn của ông, không ai lưu ý đến ý kiến của ông. Cuối năm 1937 ông được vinh thăng đại tá. Tướng Pétain ghi nhận khả năng và sự tận tụy của De Gaulle nhưng bực dọc về những sáng kiến táo bạo của ông về việc cải tổ quân đội và quốc phòng. Khi đệ nhị thế chiến bùng nổ, lâp trường chánh trị của De Gaulle và Philippe Pétain về Ɖức Quốc Xã hoàn toàn khác biệt.
Một tháng trước khi quân Ɖức chiếm Paris (16-06-1940) De Gaulle được thăng chức thiếu tướng. Ngày 06-06-1940 ông tham gia nội các Reynaud với tư cách thứ trưởng bộ Quốc Phòng và Chiến Tranh. Ngày 16-06 nội các Reynaud sụp đổ. Thống chế Pétain ký hiệp ước đình chiến với Ɖức. Thiếu tướng De Gaulle sang Anh lãnh đạo cuộc kháng chiến chống phát xít Ɖức. Tại Pháp Pétain thành lập chánh phủ Vichy thân Ɖức. Quốc ca La Marseillaise vẫn còn nhưng người ta chỉ nghe bản Maréchal, Nous Voilà ca ngợi thống chế Pétain mà thôi. Bên cạnh bài Maréchal, Nous Voilà của chánh phủ Vichy thân Ɖức Quốc Xã có bài Le Chant des Partisans (Khúc Hát Du Kích Quân) của lực lượng kháng chiến Pháp Tự Do từ hải ngoại vọng về. Ɖa số người Pháp hướng về De Gaulle. Chánh quyền Pháp ở các thuộc địa đặt dưới quyền chỉ đạo của chánh phủ Vichy do Pétain cầm đầu nhưng trong thâm tâm, họ hướng về phe kháng chiến do De Gaulle lãnh đạo. Tháng 8 năm 1940 Charles de Gaulle bị xử tử hình khiếm diện về tội phản quốc, chống lại chánh phủ Pétain và thường xuyên kêu gọi dân chúng Pháp kháng chiến chống Ɖức và chánh phủ Pétain thân Ɖức.
Từ trái sang phải: Henri Giraud, Franklin Delano Roosevelt,
Charles de Gaulle và Winston Churchill ở Casablanca năm 1943 (Ảnh: larousse.fr)
Trong cuộc sống lưu vong tạm bợ De Gaulle chịu nhiều nỗi đắng cay. Trong cuộc kháng chiến chống Ɖức ông phải nhờ vả Anh và Hoa Kỳ. Thủ tướng Winston Churchill xem sự hiện diện của De Gaulle ở Anh và sự giúp đỡ của nước này cho phe kháng chiến Pháp hải ngoại như bắt Anh phải vác thánh giá vậy! Năm 1943 Charles De Gaulle quyết định dời tổng hành dinh về Algiers, thủ đô của Algeria. Vào năm này De Gaulle là đồng chủ tịch Ủy Ban Quốc Gia Giải Phóng Pháp Quốc với tướng Henri Giraud (1879 - 1949). Trong cương vị này Tướng De Gaulle và Henri Giraud hội kiến với tổng thống Hoa Kỳ Franklin Delano Roosevelt và thủ tướng Anh Winston Churchill ở Casablanca năm 1943. Vai trò của tướng De Gaulle bị quên lãng trong các hội nghị quốc tế trong đệ nhị thế chiến:
Sự vắng mặt của De Gaulle trong các hội nghị quốc tế cho thấy Anh, Hoa Kỳ không xem Pháp là một cường quốc. Trên thực tế chỉ có Tam Cường trên thế giới mà thôi. Sự thật chua chát này đẩy De Gaulle tiến gần với Stalin nhiều hơn. Hiệp ước Liên Minh Hỗ Tương Pháp-Liên Sô ký kết tháng 12 năm 1944 ở Moscow xác nhận điều đó.
Ngày 06-06-1944 quân Ɖồng Minh đổ bộ lên Normandy. Dưới sự chỉ huy của tướng Philippe Leclerc Lực Lượng Pháp Tự Do giải phóng Paris ngày 25-08-1944.

Quân đội Mỹ đã góp phần giải phóng Paris, nhưng Charles de Gaulle mới là người có vinh dự
dẫn đầu đoàn diễn hành dọc theo đại lộ Champs-Élysées (© Imperial War Museums).
Ngày 09-09-1944 De Gaulle từ Algiers về Paris. Ông đứng đầu nội các lâm thời. Là một quân nhân giàu lòng yêu nước, ông bắt đầu gặp vô vàn khó khăn trong sinh hoạt chính trị của một quốc gia đa đảng theo chế độ đại nghị tôn thờ khẩu hìệu L’armée, la grande muette (quân đội, mụ câm vĩ đại). Pháp bị chiến tranh tàn phá. Kinh tế Pháp suy sụp. Ɖảng Cộng Sản Pháp hoạt động hữu hiệu trong các cuộc bầu cử. Vị thế đế quốc Pháp trên thế giới lung lay. De Gaulle không ngừng nhắc đến sự vĩ đại (grandeur) của nước Pháp. Ɖó là lúc ông chủ trương tái chiếm thuộc địa để cứu vãn danh dự cho nước Pháp và dùng thuộc địa cứu vãn kinh tế Pháp. Việt Nam là điểm nhắm đầu tiên của Paris. Ɖó là lúc cả Nam Bộ vang rền khúc hát Nam Bộ Kháng Chiến. Những người yêu độc lập, tự do chiến đấu bằng những phương tiện nghèo nàn như tầm vông vạt nhọn, cuốc xẻng, gậy gộc, lựu đạn Molotov v.v.. nhưng 9 năm sau họ đã thành công trong việc đánh bại đạo quân xâm lăng từng đau khổ và nhục nhã vì bị Ɖức xâm lăng trong thế chiến vừa qua.
Ɖệ tứ Cộng Hòa Pháp (3) ra đời sau khi De Gaulle từ chức về quê ẩn dật.
De Gaulle không thành công trong thời gian lãnh đạo nước Pháp từ năm 1944 - 1946 (dưới 2 năm). Lý tưởng và lòng yêu nước thuần khiết của ông không gặp điều kiện thuận lợi trong xã hội loài người phức tạp và biến thiên không ngừng. Việc chinh phục thuộc địa trở nên lỗi thời sau đệ nhị thế chiến với sự ra đời của Tổ Chức Liên Hiệp Quốc. Năm 1947 ông thành lập Tập Ɖoàn Công Dân Pháp (RPF: Rassemblement du Peuple Français). Năm 1955 Tập Ɖoàn này giải tán.
Về ẩn dật trong làng Colombey Les-Deux-Églises, De Gaulle bắt đầu viết hồi ký chiến tranh, một thiên hồi ký có giá trị ra đời vào hậu bán thập niên 1950. Trong thời gian này ông chứng kiến nhiều diễn biến lịch sử quan trọng như sự thành lập tổ chức NATO (North Atlantic Treaty Organization: Minh Ước Bắc Ɖại Tây Dương - 1949), sự ra đời của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (1949), Liên Sô thí nghiệm trái bom nguyên tử đầu tiên (1949), chiến tranh Triều Tiên (1950), sự bại trận của Pháp ở Ɖiện Biên Phủ (1954), sự hồi hương của quân viễn chinh Pháp từ Việt Nam (1956), sự ra đời của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Algeria (1954 - 1962) v.v..
Ngày 13-05-1958 quân Pháp ở Algeria nổi dậy. Nội chiến suýt nổ ra ở Pháp. Trước tình thế này người ta nghĩ đến người có thể cứu vãn tình hình phải là một quân nhân có uy tín. Người ấy không ai khác hơn là tướng De Gaulle.
Sau 12 năm sống ẩn dật, tướng De Gaulle, người giải phóng nước Pháp, trở lại chính trường. Ông cải tổ hiến pháp, gia tăng quyền hành cho người lãnh đạo. Pháp không còn theo chế độ đại nghị. Chức vụ thủ tướng vẫn còn nhưng thực quyền nằm trong tay tổng thống. De Gaulle đắc cử tổng thống Pháp ngày 21-12-1958, Ɖệ Ngũ Cộng Hòa Pháp ra đời và tồn tại đến ngày nay.
Khác với ước muốn của phe quân sự ở Algeria, De Gaulle theo khuynh hướng trao trả độc lập cho Algeria. Ɖiện Biên Phủ làm lung lay địa vị của Pháp trong Ngũ Cường. Algeria có thể tạo một Ɖiện Biên Phủ thứ hai ở Bắc Phi không?
Phe cực hữu chủ trương duy trì chế độ thuộc địa ở Algeria. Họ thành lập Tổ Chức Quân Ɖội Bí Mật (OAS: Organisation de l’Armée Secrète) do đại tướng Salan (4) và nhà chánh trị cực hữu Jean-Jacques Susini lãnh đạo. Tổ chức này ám sát tổng thống De Gaulle nhiều lần nhưng thất bại. Năm 1962 Algeria được độc lập mặc cho những cuộc bạo động và khủng bố của OAS. Tổng thống De Gaulle cố phục hồi vị thế cường quốc của Pháp trên thế giới bằng cách:
Về đối ngoại De Gaulle không mặn nồng với Anh và Hoa Kỳ nhưng thân thiện hoà giải với Tây Ɖức với hiệp ước Pháp-Ɖức và trong Cộng Ɖồng Kinh Tế Âu Châu. Ông không tha thiết với NATO mà quan tâm đến sự đoàn kết và phát triển của các nước Âu Châu không Cộng Sản. Ông chủ trương trung lập hóa Ɖông Dương và luôn luôn bất đồng chánh kiến với Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam. Pháp thiết lập bang giao với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc vào đầu năm 1964. Paris là nơi các nhà ngoại giao của các phe lâm chiến trong chiến tranh Việt Nam (Hoa Kỳ-Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa-Việt Nam Cộng Hòa-Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tức Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam) hội họp để cho ra đời Hiệp Ɖịnh Paris (27-01-1973) chấm dứt cuộc chiến tranh dai dẳng và đẫm máu ở phía nam vĩ tuyến 17.

Tổng thống Pháp Charles de Gaulle cùng Tổng thống Mỹ
John F. Kennedy vào năm 1961 (Ảnh: historyisnowmagazine.com)
Năm 1969 tổng thống De Gaulle thất bại trong cuộc trưng cầu dân ý về việc cải tổ Thượng Viện và hành pháp tản quyền. Sự thất bại này dẫn đến sự rút lui của tổng thống De Gaulle khỏi chánh trường. Ông lui về Colombey Les-Deux-Églises và mất ở đó năm 1970. Theo lời dặn của ông, đám tang của ông rất đơn giản và trên mộ ông chỉ có những dòng chữ đơn giản như: Tên, họ, năm sinh và tử. Không có chức vụ gì trên mộ bia của Người Giải Phóng nước Pháp.
***
Sau khi đọc qua quá trình hoạt động của hai tướng lãnh Pháp từng lãnh đạo quốc gia, chúng ta thấy gì về hai nhân vật này?
1- Napoléon Bonaparte và Charles de Gaulle đều là người Pháp. Napoléon là người Pháp nhập tịch. Khi ông chào đời, đảo Corsica vừa mới sát nhập vào Pháp. Khi học ở Pháp, ông bị bạn bè Pháp chế nhạo giọng nói tiếng Pháp của ông. Charles de Gaulle là người Pháp 100%. Charles de Gaulle yêu nước Pháp 100%. Napoléon không đạt được tỷ lệ này.
2- Napoléon cao 1,69m. Tướng De Gaulle cao 1,96m. Napoléon rất ƉỘNG. Trái lại De Gaulle rất TỊNH. Napoléon và De Gaulle là hai tướng lãnh. Napoléon nặng về quân sự. De Gaulle nặng về học thuyết và chiến lược quân sự. Những quyết định ƉÚNG hay SAI tùy thuộc ít nhiều vào sức khỏe của người có quyền quyết định một việc quan trọng nào đó. Những hình vẽ cho thấy Napoléon thường dùng tay ôm bụng vì ông bị chứng đau dạ dày kinh niên. Tướng De Gaulle rất khỏe mạnh nên trầm tĩnh trước các vấn để nan giải. Trái lại hoàng đế Napoléon I dễ nóng giận trước kết quả của những chuyện không xứng ý toại lòng. Ɖô đốc Villeneuve bị bắt sau khi hải quân Anh đè bẹp hải quân Pháp-Tây Ban Nha ở Trafalgar năm 1805. Ɖược thả về nước, ông bị hoàng đế Napoléon I đay nghiến đến phải tự tử chết.
3- Napoléon và De Gaulle đều là tín hữu đạo Thiên Chúa. De Gaulle sùng đạo và thực hành những gì đã học được từ đạo Thiên Chúa. Napoléon cao ngạo khi chận không cho Ɖức Giáo Hoàng đặt vương miện lên đầu ông trong lễ đăng quang tại nhà thờ Notre-Dame ở Paris. De Gaulle tôn trọng chế độ độc thê. Ông có một vợ cho đến ngày vĩnh viễn rời khỏi cõi đời. Vợ ông là bà Yvonne de Gaulle, có ba người con với ông: Philippe de Gaulle, Élisabeth de Gaulle và Anne de Gaulle.
Khác với De Gaulle, Napoléon I đa thê. Bà Joséphine de Beauharnais trở thành hoàng hậu năm 1804 và bị hoàng đế Napoléon I ly dị năm 1810 vì không có con. Năm 1810 ông cưới công chúa nước Áo là Marie Louise và có một hoàng tử: Napoléon François Charles Joseph Bonaparte sinh năm 1811. Vị hoàng tử này được biết với tên Napoléon II, vua Rome. Hoàng đế Napoléon I có nhiều tình nhân có con ngoại hôn với ông. Nữ bá tước Ba Lan Marie Walewska có con với ông. Ɖó là Alexsandre Florian Joseph Walewski (5). Bà Marie Walewska yêu Napoléon I để cứu nước Ba Lan khỏi áp lực của Nga. Thực sự bà yêu Napoléon I. Khi Napoléon I bị đày ra đảo Elba năm 1814, chỉ có nữ Bá Tước Marie Walewska đến đảo thăm ông mà thôi. Trong cuộc viễn chinh ở Ai Cập tướng Napoléon có một tình nhân tuyệt sắc, vợ của một sĩ quan Pháp trong cuộc viễn chinh sang Ai Cập năm 1798. Ɖó là người đẹp Pauline Fourès, người được gọi là “Cléopâtre Ai Cập” của tướng Napoléon Bonaparte. Nàng Pauline không có con với Napoléon. Năm 1806 hoàng đế Napoléon I có một người con ngoại hôn với bà Elénore Denuelle de La Plaigne, vợ một sĩ quan bị cầm tù. Người con ngoại hôn đó là Charles Léon Denuelle, sinh năm 1806.
4- Napoléon có nhiều chiến công lừng lẫy hơn De Gaulle. Ông tham gia từ 60 đến 80 trận đánh đẫm máu trên khắp chiến trường Âu Châu và Trung Ɖông. Ông thắng trên 90% các trận đánh và bị bại dưới 10%. Hai sự bại trận đáng ghi nhớ trong đời ông là việc bao vậy thành Acre năm 1799 ở Trung Ɖông và trận Waterloo ở Bỉ năm 1815. Trong đời binh nghiệp tướng Napoléon có hai người đỡ đầu: em nhà độc tài Robespierre và Barras. Tướng De Gaulle không có người đỡ đầu. Ông không có những chiến công lừng lẫy mà chỉ tham dự các trận đánh trong đệ nhất thế chiến với tư cách một sĩ quan cấp úy vừa tốt nghiệp trường Võ Bị Saint Cyr, như trận Dinan (1914), trận Champagne (1914) và trận Verdun (1916). Tướng Pétain chỉ huy trận đánh Verdun năm 1916. Trận đánh đẫm máu này kéo dài 300 ngày. Pháp mất 400.000 quân, Ɖức mất 350.000 quân.
Napoléon rất ƉỘNG. Ông biến nước Pháp thành một đế quốc trên lục địa Âu Châu như hoàng đế Charlemagne (784 - 814) đã hợp nhất các nước Tây Âu và Trung Âu vào năm 800 để tuyên xưng Thánh Ɖế La Mã (Saint Empereur Romain). Di sản mà Napoléon để lại cho nước Pháp là Luật Napoléon (1804), Khải Hoàn Môn cao 50m và rộng 45m (Arc de Triomphe được xây năm 1806 sau chiến thắng Austerlitz, phỏng theo hình ảnh Cung Titus ở Rome, khánh thành năm 1836), giáo dục thế tục, sự sáng lập văn bằng Tú Tài (Baccalauréat), sự ra đời và phát triển ngành Ai Cập học (Egyptologie), Cột Vendôme (Colonne Vendôme) ở Paris, cao 44m, làm thuần bằng đồng lấy từ 1.200 khẩu đại bác của quân Áo và Nga trong trận Austerlitz. Napoléon I nới rộng biên cương Pháp quốc bằng những chiến thắng quân sự.
Nhưng chiến tranh liên tục trên một không gian rộng lớn làm cho nhiều gia đình rơi vào cảnh tang thương, kinh tế quốc gia suy lụn. Năm 1814 Paris tràn ngập quân Ɖệ Lục Liên Minh. Hoàng đế Napoléon I bị bắt buộc phải thoái vị và bị đày ra đảo Elba. Vua Louis XVIII lên ngôi với sự hỗ trợ của Ɖệ Lục Liên Minh gồm những quốc gia quan trọng như Anh, Áo, Nga, Phổ. Anh là đối thủ lợi hại nhất của Napoléon. Napoléon từng thắng Áo, Phổ và Nga. Ông thắng Anh trong trận đánh ở cảng Toulon năm 1793 và trận Corunna ở Tây Ban Nha năm 1809, buộc quân Anh phải rút hết quân ra khỏi Tây Ban Nha. Ký ức về cuộc viễn chinh Ai Cập năm 1798 khi tất cả tàu bè của Pháp bị Anh đánh chìm gần hà khẩu sông Nile, trận bao vây thành Acre năm 1799, trận thủy chiến Pháp-Anh ở Trafalgar năm 1805 gợi cho Napoléon I sự lo sợ lẫn oán ghét nước Anh. Người đánh bại Napoléon trong trận Waterloo năm 1815 là quận công Wellington của Anh. Ɖế triều Napoléon sụp đổ hoàn toàn. Napoléon I bị đày ra đảo Saint Helena xa xôi và mất ở đó năm 1821.
Napoléon I và De Gaulle là hai người con xuất chúng của nước Pháp. Cả hai đều cố gắng mang danh dự về cho nước Pháp. Một người thì năng động. Người kia thì trầm lặng. Người con năng động đem nhiều lợi ích và tiếng tăm cho gia đình nhưng cũng là người gây đổ vỡ rất nhiều khi thất bại. Người con trầm lặng lo cho gia đình một cách thầm lặng. Không vì lợi lộc. Không vì tiếng khen. Không vì quyền lực, sự giàu có và sự tung hô của người khác dành cho mình. Người ấy cứu gia đình khi bị kẻ dữ bên ngoài lấn áp. Người ấy luôn luôn tìm cách cứu vãn danh dự bị mất vì bị ngoại nhân xâm chiếm và bị bằng hữu và gia nhân xem thường. Khi anh em suy bì, chống đối, hoài nghi người trầm lặng là nhà “độc tài”, “tham danh”, “hiếu quyền”, thì người ấy lui về quê sau khi phục hồi trọn vẹn danh dự cho “đại gia đình” bị Ɖức chiếm đóng (1940 - 1944) và bị bại trận ở Ɖiện Biên Phủ năm 1954. Tổng thống De Gaulle phục hồi kinh tế, tài chánh và biến nước Pháp trở thành một cường quốc nguyên tử không phụ thuộc vào kỹ thuật của Hoa Kỳ.
5- Tìm một nhà lãnh đạo thắng không kiêu, bại không nản; cứng rắn, quyết đoán, quyền uy nhưng không độc ác, không độc tài, không độc đoán mà tôn trọng dân ý và các nguyên tắc dân chủ hiến định; thành công, có quyền hành tối thượng nhưng không tham quyền cố vị, không tích lũy vàng bạc, dinh thự cho bản thân và gia đình, không báo thù cấp trên đã hại mình (6); khi sai biết sửa (7); khi chết không cần thiết phải có đám tang rình rang với đông đảo người đưa tiễn, kèn trống vang rền mà chỉ thu mình trong một làng nhỏ xa xôi hẻo lánh như tướng De Gaulle đã làm không phải là một chuyện đơn giản dễ làm.
Phạm Ɖình Lân, F.A.B.I.
_____________________
Chú thích:
(1): Louis Bonaparte là em của Napoléon I. Vợ ông là Hortense de Beauharnais và là con gái của bà Joséphine tái giá với Naploléon Bonaparte năm 1796. Như vậy em của Napoléon I cưới con gái của bà Joséphine và tướng Beauharnais, người bị xử tử dưới thời Robespierre. Hortense trở thành hoàng hậu của vương quốc Hòa Lan. Bà có ba con với Louis Bonaparte. Một trong số đó là hoàng đế Napoléon III của Pháp sau này.
(2): Quân Thụy Ɖiển do Bernadotte chỉ huy. Lúc ấy ông mang tên Charles John (tiếng Thụy Ɖiển là Karl Johan) và sắp lên ngai vàng ở Thụy Ɖiển. Năm 1818 Bernadotte là vua Thụy Ɖiển-Na Uy dưới niên hiệu Charles XIV John, tức Karl XIV Johan theo tiếng Thụy Ɖiển.
(3): Từ khi cách mạng 1789 bùng nổ đến nay, nước Pháp có 5 nền Cộng Hòa (Républiques):
(4): Raoul Salan (1899 - 1984) từng là tổng tư lịnh Pháp trên chiến trường Ɖông Dương. Sau chiến trường Ɖông Dương ông là một trong những tổng tư lịnh Pháp trên chiến trường Algeria. Ông chống lại chánh sách trao trả độc lập cho Algeria của tổng thống De Gaulle khi thành lập ra OAS (Tổ Chức Quân Ɖội Bí Mật).
(5): Alexandre Florian Joseph Walewski là con ngoại hôn của Napoléon I với bà Maria Walewska, vợ của bá tước Anastazy Colonna-Walewski (1731 - 1815). Ông sinh năm 1810 và lấy họ Walewski, họ của vị bá tước chồng bà Maria, lúc ấy ông 79 tuổi! Dưới thời hoàng đế Napoléon III, cháu gọi Napoléon I bằng bác, Alexandre là tổng trưởng bộ Ngoại Giao của Pháp từ năm 1855 đến 1860.
(6): Philippe Pétain là thượng cấp của De Gaulle trong đệ nhất thế chiến. Năm 1940 ông thành lập chánh phủ Vichy thân Ɖức. Tướng De Gaulle chạy sang Anh kêu gọi người Pháp kháng chiến chống Ɖức. Tướng De Gaulle bị tuyên án tử hình khiếm diện về tội phản quốc (1940). Năm 1944 Pháp được giải phóng. Thiếu tướng De Gaulle lãnh đạo chánh phủ lâm thời. Tháng 8 năm 1945 thống chế Pétain bị dẫn độ về Pháp từ Ɖức để bị tòa án xét xử và tuyên án tử hình. Nhưng bản án tử hình của thống chế Pétain được chuyển thành án tù chung thân. Người ta không quên công lao của ông trong trận đánh Verdun. Thống chế Pétain chết trong tù năm 1951, thọ 95 tuổi.
(7): Tổng thống De Gaulle trao trả độc lập cho Algeria năm 1962 thay vì tiếp tục chiến tranh với thuộc địa để có thể gặp một Ɖiện Biên Phủ thứ hai hơn là một thắng lợi quân sự như đã xảy ra dễ dàng vào thế kỷ XIX. Lập trường của ông về vấn để thuộc địa năm 1945 hoàn toàn khác biệt với lập trường của chính ông cùng một vấn đề vào năm 1962.
Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/vanhoaxahoi/vanhoa/venapoleon1.html